Tóm lược giáo dục Hoa Kỳ- phần 2

Tóm lược giáo dục Hoa Kỳ- phần 2

SỰ LỚN MẠNH CỦA HỆ THỐNG TRƯỜNG CÔNG LẬP

Trong thời kỳ thực dân đô hộ, các trường công không có tên tuổi, mặc dù một số thuộc địa đã thành lập các “trường thu học phí” dành cho những người có đủ khả năng tài chính theo học. Harvard, trường đại học đầu tiên tại Bắc Mỹ, được thành lập năm 1636 ở Massachusetts và, cũng giống như tất cả các trường đại học thời kỳ đó, tập trung chủ yếu vào đào tạo tôn giáo và ngôn ngữ cổ điển – La-tinh và Hy Lạp.

Trường công

Pháp lệnh Tây Bắc ban hành năm 1787, áp dụng với khu vực nay là các tiểu bang Ohio, Illinois, Indiana, Wisconsin và Michigan, đã quy định tất cả các thị trấn mới thành lập cứ 36 mảnh đất phải dành mộ tmảnh để xây dựng trường công. Thông thường, những trường này chỉ là những ngôi nhà một gian đơn giản có tháp chuông màu đỏ trên nóc (do vậy thường được gọi là “ngôi trường nhỏ màu đỏ”).Năm 1820 Quốc hội cho phép thu ngân sách cho giáo dục của các tiểu bang từ việc bán đất công.

Trong nửa đầu thế kỷ 19, nhà cải cách Horace Mann củatiểu bang Massachusetts đã triển khai một chiến dịch có ảnh hưởng rất lớn kêu gọi sử dụng nguồn thu thuế của tiểu bang để cải thiện và hỗ trợ các trường công miễn phí cho tất cả trẻ em. Theo nhà vănLawrence Cremin: “cuộc chiến ủng hộ các trường miễn phí là một cuộc chiến đầy cay đắng, và sau 25 năm đấu tranh, kết quả vẫn chưa chắc chắn”.Tuy nhiên, đến năm 1860, hầu hết các tiểu bang đã chấp nhận ý tưởng nêu trên, xoa dịu các cuộc biểu tình phản đối thuế cao bằng cách giao quyền kiểm soát các trường học cho các địa phương. Nguyên tắc giáo dục công miễn phí do ngân sách nhà nước tài trợ thuộc quyền kiểm soát của địa phương đã có bề dày lịch sử trong xã hội Hoa Kỳ

Đất cho các trường đại học

Đạo luật cấp đất Morrill được ban hành trong thời kỳ nội chiến ở Hoa Kỳ năm 1862 đã áp dụng cơ chế tương tự – tức là bán đất công chos ản xuất nông nghiệp và công nghiệp để xây dựng các trường đại học. Hiện nay, các trường công được cấp đất, trong đó có những trường đại học lớn nhất và danh tiếng nhất của các tiểu bang, đã có các chương trình đào tạo văn chương, lịch sử và chuyên ngành ở cả bậc đại học và sau đại học.

Các trường học ở biên giới

Ở vùng biên giới phía Tây, những người dân ở đây đã tìm cách xây dựng các trường học gần như ngay sau khi thành lập các thị trấn mới. Trên thực tế, Quốc hội yêu cầu các địa phương cung cấp giáo dục công miễn phí cho tất cả mọi người trước khi được xem xét thành lập tiểu bang. Nhà sử học Kathryn Sklar trong cuốn sách mang tựa Trường học đã nhận xét rằng “Các trường học trở thành các công trình công cộng quan trọng thu hút người dân”.Nhưng các trường học ở biên giới lại gặp những thách thức khác hẳn với các trường học ở đô thị, mà một trong những thách thức chủ yếu là tình trạng thiếu giáo viên trầm trọng. CatherineBeecher, em gái của nhà văn Harriet BeecherStowe, tác giả của cuốn Túp lều bác Tôm, đã lãnh đạo một phong trào rất thành công nhằm đề cao vai trò của nữ giáo viên là “lực lượng khai hóa” ở miền Tây. Những người phụ nữ đó đã phải trải qua biết bao khó khăn nơi biên giới, gần như không được trang bị thứ gì ngoài niềm tin vững chắc của họ về tầm quan trọng của giáo dục và một số cuốn sách giáo khoa dành cho các trường học miền Tây, mang tên McGuffey Readers. Các cuốn sách giáo khoa này đã kết hợp các bài tập đọc và làm toán vớic ác “câu chuyện về đạo đức” nhằm xây dựng nhân cách.

Người nhập cư ở đô thị

Các trường công phát triển cùng với mức độ gia tăng học sinh nhập cư, chủ yếu đến từ Châu Âu, cùng với quy mô dân số đáng kể của cộng đồng người Hoa và Nhật Bản ở bờ Tây và cộng đồng người Mexico và Mỹ La-tinh ở miền Tây Nam. Mỗi đợt nhập cư nối tiếp nhau đều đặt ra những khó khăn không chỉ từ góc độ năng lực mà cả mục tiêu và tổ chức của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ trong bối cảnh số lượng học sinh mới nhiều chưa từng thấy.Việc đồng hóa và giáo dục trẻ em có nguồn gốc và ngôn ngữ khác nhau ở các thành phố lớn thu hút người nhập cư – cho dù là người Ailen, Đức và Scandinavia giữa thế kỷ 19, hay Trung và Nam Âu trong những năm đỉnh điểm của phong trào nhập cư từ thập niên 1890đến 1920 – là một thách thức trầm trọng.

Tuy vậy, người ta ước tính rằng, với tình trạng lao động trẻ em không bị hạn chế, chỉ vỏn vẹn 50% học sinh đi học và trung bình thời gian đi học là năm năm.

Sự phát triển của các trường công trong giai đoạn này rất lớn – tăng từ 7,6 triệu học sinh năm 1870 lên tới 12,7 triệu vào cuối thế kỷ 19.Theo cuốn sách Trường học, Hoa Kỳ “cung cấp giáo dục cho nhiều trẻ em hơn bất kỳ quốc gia nào trên trái đất này”.

Như học giả và sử gia giáo dục Diane Ravitch đã viết trong cuốnTrường học: “Mức độ sẵn sàng của hệ thống trường học ở Hoa Kỳ nhằm đảm bảo giáo dục cho các học sinh nghèo thực sự rất ấn tượng; các nỗ lực đồng hóa học sinh nhập cư vào xã hội Mỹ phần lớn là thành công… Đây chính là những thành quả lâu dài trong hệ thống trường công của Hoa Kỳ”.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.