Giới thiệu sơ lược nền giáo dục Hoa Kỳ- phần I

Giới thiệu sơ lược nền giáo dục Hoa Kỳ- phần I

CƠ CẤU NỀN GIÁO DỤC HOA KỲ

Đối với người nước ngoài, hệ thống giáo dục Hoa Kỳ dường như rất đa dạng, có quy mô lớn và thậm chí là hỗn loạn. Mặc dù phức tạp như vậy, song giáo dục Hoa Kỳ lại phản ánh lịch sử, văn hóa và những giá trị của một quốc gia luôn chuyển mình. Xét một cách khái quát, đặc trưng của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ thể hiện ở quy mô lớn, cơ cấu tổ chức, sự phân quyền rõ rệt và tính đa dạng ngày càng lớn ngay trong hệ thống này.

Quy mô

Các trường học ở Hoa Kỳ – công lập và tư thục, tiểu học và trung học, đại học công lập và tư thục – xuất hiện ở tất cả mọi nơi, đồng thời Hoa Kỳ tiếp tục điều hành một trong những hệ thống giáo dục phổ cập lớn nhất thế giới. Theo Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốcgia, trong niên khóa 2005–2006 đã có trên 75 triệu trẻ em và người lớn đã đi học ở các trường phổ thông và đại học ở Hoa Kỳ. Ngoài ra,còn có 6,8 triệu giáo viên được tuyển dụng, giảng dạy từ cấp mẫu giáo tới đại học.

Hơn nữa, có trên một triệu trẻ em từ các gia đình có thu nhập thấp, từ ba đến bốn tuổi, đã được hưởng phúc lợi từ chương trình hỗ trợ giáo dục nhằm thực hiện các chương trình giáo dục, phát triển xã hội và dinh dưỡng để đảm bảo cho tất cả các trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo này có đủ điều kiện đi học khi lên năm hoặc sáu tuổi.

Tỷ lệ học sinh theo học tại các trường công đã tăng lên nhanh chóngtrong giai đoạn sau chiến tranh Thế giới Thứ hai (thế hệ sinh sauchiến tranh từ năm 1946–1964). Theo báo cáo mới nhất của Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ, sau khi tụt giảm trong thập niên 1980, tỷ lệ học sinh đến trường đã phục hồi mạnh mẽ, phần lớn là do dân số tăng mạnh trong cộng đồng gốc Mỹ La-tinh.

Hệthống giáo dục Hoa Kỳ hiện có khoảng 96.000 trường tiểu học và trung học công lập, cộng thêm hơn 4.200 trường đại học và cao đẳng, từ các trường cao đẳng quy mô nhỏ đào tạo hai năm đến các trường đại học quy mô khổng lồ với các chương trình đào tạo đại học và sau đại học có trên 30.000 sinh viên.

Tổng chi tiêu cho giáo dục của Hoa Kỳ mỗi năm đạt xấp xỉ 878 tỷ đô-la.

Cơ cấu tổ chức giáo dục phổ thông

Ở hầu hết các tiểu bang, trẻ em cho đến khi 16 tuổi bắt buộc phải tới trường. Nhìnchung, trẻ em thường bắt đầu đi học ở nhà trẻ từ khi lên năm tuổi và tiếp tục học hết trung học (lớp 12) đến18 tuổi.Thông thường, bậc tiểu học bắt đầu từ lớp mẫugiáo đến lớp năm hoặc lớp sáu, và ở một số trường đến tận lớp tám. Các trường trung học thường bắt đầu từ lớp 9 đến lớp 12.

Cách đây 50 năm, học sinh tiểu học thường được chuyển ngay lên cấp trung học, hoặc học lớp 7 và 8 hoặc lớp 7, 8 và 9 ở bậc trung học cơ sở. Tuy nhiên, trong 30 năm qua, đa số các trường trung học cơ sở được thay thế bằng các trường chuyển cấp dành cho lớp 6 đến lớp 8. Theo ước tính hiện có khoảng 20 triệu trẻ em từ 10 đến 15tuổi đang theo học ở các trường chuyển cấp (trung học cơ sở).

Dạy học theo nhóm và xếp lịch linh hoạt chứ không theo các tiết học cố định kéo dài 45 hoặc 50 phút là đặc trưng của các trường chuyển cấp. Các trường này cũng chú trọng tới các nhóm nhỏ, cách tiếp cận tổng hợp các môn học trước một chủ đề nào đó và các bài tập nhóm đặc biệt thu hút sự tham gia của học sinh từ 10 đến 15 tuổi. Hiệp hội các trường chuyển cấp quốc gia cho rằng: “các học sinh chuyển cấpđang trải qua những thay đổi về trí tuệ và phát triển nhanh nhất trong cuộc đời của mình”.

Các trường trung học hiện nay với danh mục các môn học bắt buộc và tự chọn phong phú cho học sinh từ 14 đến 18 tuổi đã trở thành yếu tố thường trực trong hệ thống giáo dục Hoa Kỳ từ giữa thế kỷ 20. Các học sinh trung học có thể lựa chọn từ vô số câu lạc bộ, hoạt động, điền kinh, thực hành và các hoạt động ngoại khóa khác. Căn cứ vào xếp loại và kết quả thi, học sinh có thể học các môn chuyên sâu hoặc các môn học mang tính chất khái quát hoặc hướng nghiệp.

Gần như trong suốt thế kỷ 20, các trường trung học đã được củng cố thành những cơ sở đào tạo có quy mô lớn hơn, đem lại nhiều sự lựa chọn hơn cho đông đảo học sinh. Trường học quy mô nhỏ ở nông thôn gần như đã biến mất và được thay thế bằng các trường trung học có quy mô toàn hạt. Ở thành phố, các trường học lớn có tới 5000 học sinh theo học để vào đại học hoặc hướng nghiệp cũng đã trở nên phổ biến và thu hút gần như tất cả mọi người tham gia.

Gần đây, mối quan ngại về chất lượng giáo dục ở những trường có quy mô lớn như vậy đã khiến người ta kêu gọi thành lập các trường nhỏ hơn với tỷ lệ học sinh–giáo viên thấp hơn.

Các trường tư

Các trường tư đã phát triển mạnh mẽ ở Hoa Kỳ, nhiều trường trong số đó là của nhà thờ và các tổ chức tôn giáo khác. Trong tổng số ước tính 55,8 triệu học sinh tiểu học và trung học niên khóa 2007–2008,có khoảng 6 triệu, tức là 11%, theo học tại các trường tư.

Hơn một nửa số học sinh trường tư theo học tại các trường học của Thiên Chúa giáo – hệ thống trường tư lâu đời nhất ở Hoa Kỳ. Các trường tư khác cũng phản ánh sự đa dạng về tôn giáo của Hoa Kỳ, từ các giáo phái của Tin Lành tới phái Quaker, Đạo Hồi, DoThái và các tín ngưỡng Chính thống Hy Lạp.

Tuy nhiên, các trường tư lâu đời nhất của Hoa Kỳ lại là các trường nội trú“tinh hoa”, được thành lập từ thế kỷ18 và là cái nôi đào tạo nên nhiều nhà lãnh đạo chính trị và học giả lớn của nước Mỹ.

Sự phân quyền

Có lẽ đặc điểm nổi bật nhất trong hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ là sự phân quyền. Các trường học ở Hoa Kỳ đã và đang thuộc trách nhiệm chủ yếu của tiểu bang và địa phương. Khác với hầu hết các nước khác, Hoa Kỳ không có hệ thống quản lý giáo dục quốc gia –trừ một số ngoại lệ như các học viện quân sự và các trường học dành cho người Mỹ bản địa. Chính phủ liên bang cũng không duyệt và điều hành chương trình học quốc gia.

Nền giáo dục công chiếm tỷ lệ chi lớn nhất ở tất cả các thành phố và các hạt ở Hoa Kỳ, với tổng số ngân sách được phân bổ từ nguồn thuế tài sản tại địa phương. Các hội đồng quản trị giáo dục địa phương – chủ yếu là được bầu lên – quản lý khoảng 15.500 học khu khắp cả nước, từ các trường học nhỏ ở nông thôn ở các tiểu bang như Kansas và Nebraska tới hệ thống trường học ở Thành phố NewYork, nơi mỗi năm đào tạo hơn một triệu học sinh.

Sự đa dạng

Các trường học ở Hoa Kỳ đã chứng kiến biết bao đợt nhập cư trong suốt quá trình lịch sử của dân tộc. Ngày nay, các trường học ở Mỹ –cũng tương tự như xã hội Mỹ nói chung – đa dạng về sắc tộc hơn 11 -bao giờ hết. Đầu thế kỷ 20, trẻ em trong các gia đình nhập cư – chủyếu từ Đông và Nam Âu – đã ồ ạt đến học trong hệ thống trường công ở Đông Bắc và Trung Tây. Hiện nay, những người mới nhập cư tiếp tục làm thay đổi thành phần sắc tộc trong lực lượng học sinh mặc dù số lượng nhập cư lớn nhất hiện nay là từ Mỹ La-tinh và châuÁ.

Người Mỹ gốc Phi chiếm khoảng 17% học sinh phổ thông; tuy nhiên, người gốc Mỹ La-tinh lại đang trở thành nhóm sắc tộc lớn nhất trong các trường công. Có thể dễ dàng tìm thấy những trường học, đặc biệt là ở duyên hải miền Đông và miền Tây, nơi học sinh có bố mẹ sinh ra ở nước ngoài nói tới hàng chục ngôn ngữ khác nhau, từ tiếng Ảrập tới tiếng Việt. Do vậy, việc dạy tiếng Anh với tư cách là ngôn ngữ thứ hai vẫn là một trong những trọng trách quan trọng nhất củagiáo dục.

Mặc dù có sự phân quyền và sự đa dạng, song các trường công vẫn gắn bó chặt chẽ với nhau về cách thức điều hành. Một học sinh đượcchuyển từ một trường ở bang California sang trường khác ở bang Pennsylvania hoặc bang Georgia chắc chắn sẽ thấy nhiều khác biệt,nhưng các môn học thì phần lớn là giống nhau cho dù Chính phủ Liên bang không áp đặt chương trình học thống nhất trên toàn quốc.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.